TẠI SAO CHÚNG TA PHẢI THAY ĐỔI THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ TRƯỚC KHI CHỐNG GIẶC NGOẠI XÂM

                                                          hay

 

SỰ QUAN TRỌNG CỦA THỂ CHÊ CHÍNH TRỊ TRONG ĐỜI

SỐNG CON NGƯỜI, XĂ HỘI, VĂN HÓA VÀ VĂN MINH

 

                               

Nhiều người chưa ư thức rơ vai tṛ của thể chế hay chế độ chính trị trong đời sống con người và xa hơn nữa là xă hội, văn hóa, văn minh. Chính v́ lẽ đó, mà chúng ta nên có một cái nh́n xét lại, rơ ràng hơn nhất là trước nguy cơ bành trướng của Tàu cộng. Hơn nữa bài học trước mắt tại Ukrain, người dân đă xuống đường lật đổ chế độ độc tài, tham nhũng của Yanukovych, kẻ đă v́ quyền lợi cá nhân, gia đ́nh sẵn sàng bó gối quy hàng Nga, sau đó bầu ra vị tổng thống mới với chủ trương đoàn kết toàn dân, thân thiện với thế giới tự do, đối thoại b́nh đẳng với Nga để bảo toàn lănh thổ.

Thể chế hay chế độ chính  trị là mô h́nh tổ chức nhân xă, nói một cách dễ hiểu, là  tổ chức chính trị, kinh tế, xă hội, luật pháp của một cộng đồng con người.

Người ta thấy có chế độ độc tài, chế độ dân chủ. Trong chế độ độc tài có nghĩa là chế độ mà quyền hành nằm trong tay một người hay một nhóm người (oligarchie). Trong chế độ dân chủ, có nghĩa là chế độ mà quyền hành nằm trong tay người dân, người dân có quyền quyết định số phận của ḿnh, người ta thấy có dân chủ trực tiếp, như ở Thụy sĩ, những quyết định quan trọng đều do trưng cầu dân ư quyết định; và chế độ dân chủ gián tiếp, người dân bầu ra đại diện của ḿnh, trong một nhiệm kỳ, những người được bầu này thay mặt dân lấy những quyết định. Hiện nay, phần lớn những chế độ dân chủ là những chế độ dân chủ gián tiếp.

Trong chế độ dân chủ gián tiếp, người ta thấy có chế độ tổng thống như ở  Hoa kỳ, chế độ đại nghị như ở bên Anh và phần lớn ở các quốc gia trên thế giới. Người ta cũng có thể thêm chế độ nửa tổng thống chế, nửa đại nghị chế, như ở bên Pháp.

 

I ) Sự quan trọng của thể chế chính trị trong đời sống con người

 

Thể chế chính trị giữ một vai tṛ tối quan trọng trong sự phát triển đời sống con người. V́ vậy có người ví thể chế chính trị như mảnh đất và người dân như hạt mầm. Con người dù là da vàng, da trắng hay da đen có thể ví như hạt mầm, nếu hạt mầm này được gieo vào một mảnh đất tốt, tức sống dưới một chế độ tốt, chế độ tôn trọng con người, những quyền căn bản của nó, đồng thời được hướng dẫn, d́u dắt bởi một nền giáo dục tốt, một hệ thống an sinh xă hội tốt, th́ hạt mầm này sẽ kết bông, nẩy trái. Ngược lại, nếu hạt mầm này được gieo trên một mảnh đất khô cằn, tức một thể chế chính trị xấu, không lo đến quyền lợi của người dân, mà chỉ lo đến quyền lợi của một số người, coi thường những quyền căn bản của con người, áp dụng một hệ thống giáo dục, tuyên truyền nhồi xọ, đa số đời sống của người dân trở nên cơ cực, trong khi một thiểu số cầm quyền tiêu sài theo kiểu vất tiền qua cửa sổ, an sinh xă hội của dân không được bảo đảm, trẻ em sơ sinh th́ thiếu dinh dưỡng, khi bệnh th́ thiếu thuốc, không có bác sĩ, không dám đi nhà thương, th́ tất nhiên hạt mầm này sẽ thui chột, chẳng khác nào được gieo trên một mảnh đất khô cằn, toàn là xỏi đá.

Ngày hôm nay, theo những nhà và viện nghiên cứu về dân chủ, th́ chế độ dân chủ, mặc dầu không được coi là chế độ hoàn hảo nhất, nhưng nó được coi là chế độ hiện hành tốt nhất để giúp con người và xă hội phát triển.

Chúng ta hăy lấy thí dụ điển h́nh để dễ hiểu, hai chế độ chính trị Nam Hàn và Bắc Hàn. Chế độ Bắc Hàn là một chế độ cộng sản độc tài, người dân sống dưới chế độ này không những không thể phát triển được, mà hàng năm c̣n bị nạn đói hoành hành từ bao chục năm nay. Ngoài xă hội th́ những hăng xưởng thiếu điện để chạy nhà máy, trong khi những công thự, những chỗ tôn thờ lănh tụ, th́ điện chan ḥa cả ngày lẫn đêm. Giáo dục là một nền giáo dục nhồi sọ, từ trẻ cho đến dân chỉ biết vâng lời, gọi dạ bảo vâng, nhắc lại những khẩu hiệu tuyên truyền rỗng tuếch.

Trong khi đó th́ Nam Hàn hiện nay vô cùng phát triển. Chúng ta chỉ cần lấy một vài thí dụ điển h́nh : Nền khoa học kỹ thuật tân tiến hiện nay được coi là ngành điện thoại cầm tay, v́ trong đó là cả một cái máy điện toán tối tân, thế mà Nam Hàn với hăng Sumsung đứng đầu trong việc sản xuất và bán trên thị trường đă lâu, trên cả hăng Apple của Hoa kỳ và hăng Nokia của Phần Lan. Ngành xe hơi cũng vậy, hăng Kia của Nam Hàn, mặc dầu mới xuất hiện, nhưng cũng không thua ǵ những hăng quốc tế nổi tiếng lâu đời khác như hăng Général Motor, Toyata, Wolkswagen, Renault. Nam Hàn từ mấy chục năm nay đă nổi tiếng về giáo dục, người thợ Nam hàn có một tŕnh độ hiểu biết tổng quát đứng đầu thế giới. Người chuyên viên Nam Hàn cần cù làm việc, chịu khó học hỏi, đi làm việc nơi nào cũng được trọng. Bằng cớ là hai tổ chức quốc tế quan trọng nhất thế giới là Liên Hiệp quốc và Ngân Hàng quốc tế, đều được cầm đầu bởi người Nam Hàn.

Được như vậy, tất nhiên do nhiều nguyên do, nhưng một trong những lư do chính, đó là dân Nam Hàn được sống dưới một chế độ tự do, dân chủ, mặc dầu chế độ này mới được thiết lập vào khoảng thập niên 80.

 

Không nói đâu xa, chúng ta trở về Việt Nam thời cận đại :

Hai chế độ miền Nam Việt Nam trước năm 1975 là hai chế độ cộng ḥa, Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng ḥa. Hai chế độ này, vào thời đó có thể nói là 2 chế độ dân chủ, tất nhiên không thể so sánh với những nước dân chủ tiền tiến, nhưng nó là một trong những nước dân chủ đầu tiên ở châu Á, chỉ thua có Nhật. Chính v́ vậy mà miền Nam cũng đă phát triển, hơn cả Nam Hàn và Đài loan lúc bấy giờ. Nếu tính theo sản lượng đầu người hàng năm th́ vào cuối thời Đệ Nhất Cộng ḥa, sản lượng của miền Nam Việt nam là 118 $, trong khi đó của Nam Hàn và Đài loan là trên dưới 80 $. Sự phát triển của miền Nam được ngay những người cộng sản công nhận, như ông Lê đăng Doanh, « nhà kinh tế «  cộng sản, trong một bài phỏng vấn của đài BBC, cũng công nhận là sau 1975, ông vào thăm miền Nam đầu tiên, ông đă phải ngạc nhiên về tŕnh độ phát triển, ông đi thăm những vùng quê, ông thấy nơi nào cũng có điện, có máy cày, đời sống người dân tương đối đầy đủ. Nhà văn Dương thu Hương, cùng với « Đoàn quân chiến thắng » vào miền Nam, trước đời sống dân miền Nam, bà đă sửng sờ, bà t́m một góc phố, như lời bà kể, để khóc, và sau đó tuyên bố : «  Tôi đă cùng một đoàn quân chiến thắng, nhưng mô h́nh tổ chức xă hội của kẻ chiến bại lại văn minh hơn mô h́nh của kẻ chiến thắng « .

Chính «  Luật Người cày có ruộng «  của thời Đệ Nhị Cộng ḥa Việt nam đă được chính phủ Đài loan bắt chước và đem áp dụng thành cộng ở nước này. Chỉ tiếc rằng những ǵ đă được xây dựng ở miền Nam đă bị cộng sản đổ xuống sông, xuống biển. Chính v́ vậy mà dân miền Nam đă có câu: «  Năm đồng đổi lấy một xu, người khôn đi học, thằng ngu làm thầy « .

Hiện nay cộng sản nói rằng đổi mới, nhưng thực sự là trở lại những thành qủa của miền Nam trước kia đă đạt được, nhưng khập khiểng, v́ thể chế chính trị vẫn là chế độ cộng sản độc tài, vẫn lấy lư thuyết Mác Lê làm nền tảng cho chế độ, như đă được ghi trong hiến pháp; giáo dục th́ nhồi sọ, đạo đức th́ suy đồi, an sinh xă hội th́ không có.

Nếu chúng ta nói đến sự quan trọng của thể chế chính trị trong sự phát triển con người và xă hội, văn minh, văn hóa, th́ chúng ta có thể dẫn chứng rất nhiều.

Ở đây tôi chỉ xin nhắc đến ông Alexis de Tocqueville ( 1805 – 1859), với hai quyển sách nổi tiếng «  De la Démocratie de l’Amérique ( Về chế độ dân chủ ở châu Mỹ ), viết từ năm 1835 tới 1840, và quyển « De l’Ancien Régime et la Révolution «  ( Về Chế độ cũ và Cách mạng) xuất bản năm 1856.

Sở dĩ tôi nói đến ông Tocqueville là v́ hiện nay, đảng Cộng sản Trung cộng, nhất là Ban Tư tưởng và ư thức hệ đang khuyên các đảng viên đọc và suy ngẫm về quyển sách của ông, đặc biệt là câu trong quyển sách thứ nh́: « Giai đoạn nguy hiểm nhất cho một chế độ, đó là lúc mà nó bắt đầu cải tổ. «

 

Theo Tocqueville, th́ « Ư tưởng dân chủ, bắt đầu bằng sự công bằng điều kiện ( égalités des conditions) là một cái ǵ thiêng liêng, không thể tước bỏ được và nó chính là một động lực làm cho những chế độ độc tài sụp đổ ». Quyển sách về dân chủ Hoa kỳ là một quyển sách cho tới bây giờ, giới trí thức nước này vẫn cho là một trong những quyển sách hay nhất qua nhận xét, phân tích và tiên đoán về Hoa Kỳ.

 

Theo Tocqueville th́ đây quả là một nền dân chủ gián tiếp, với một hiến pháp thành văn, tôn trọng những quyền căn bản của con người, tôn trọng tam quyền phân lập, và nhất là sự quân bằng quyền hành, giữa quyền trung ương và địa phương, giữa quyền hành pháp và lập pháp, giữa quyền lập pháp và tư pháp. Từ đó cho tới nay, không ai chối căi rằng nền dân chủ Hoa Kỳ quả là một mảnh đất mầu mỡ cho mọi con người đến từ mọi chủng tộc, nẩy mầm và phát triển.

 

Với quyển sách thứ nh́, mà nay Ban Tư tưởng Trung ương Trung cộng đang yêu cầu cán bộ học hỏi, nói về tại sao chế độ cũ, tức chế độ quân chủ của vua Louïs XVI Pháp lại sụp đổ. Câu trả lời của Tocqueville tất nhiên là v́ chế độ này đă cấm đoán tự do. Tuy nhiên ông cũng cảnh cáo chế độ dân chủ là không nên mắc vào « nạn độc tài số đông «  ( despotisme de la majorité). Để tránh điều này th́ nên có sự tản quyền, tôn trọng quyền tự do báo chí và làm thế nào để tam quyền phân lập rơ ràng và nhất là quyền tư pháp được độc lập.

 

Một câu hỏi đến với chúng ta là tại sao Ban Tư tưởng của Trung Ương đảng Cộng sản Trung cộng lại yêu cầu cán bộ học hỏi tư tưởng của Tocqueville và nhất là suy ngẫm câu vừa nói ở trên: «  Thời điểm nguy hiểm nhất của một chế độ …. « .

V́ đảng Cộng sản Tàu cũng ư thức rất rơ rằng ḿnh không thể nào đi ngược lại trào lưu tiến bộ của văn minh nhân loại, đó là đi đến thể chế chính trị tự do, dân chủ, tôn trọng nhân quyền, và từ đó tất nhiên là phải cải tổ, vứt bỏ tư tưởng Mác Lê Mao, chủ trương độc khuynh, độc đảng, độc tài. Tuy nhiên vấn đề là cải tổ thế nào để không đi đến cách mạng, làm sụp đổ chế độ, mất hết những đặc quyền, đặc lợi của một thiểu số người nắm quyền.

Đây là một vấn đề nan giải mà Tocqueville đă nh́n thấy và đặt ra với chế độ quân chủ Pháp thời vua Louïs XVI và cho rằng một trong những lư do chính của sự sụp đổ chế độ là v́ chế độ này bắt đầu cải tổ.

Từ cái nh́n của Tocqueville, chúng ta nh́n vào lịch sử cận đại.

 

Chúng ta thấy rằng lịch sử, trái lại với một số nhà tư tưởng cho rằng biến chuyển thế này thế nọ, theo đường thẳng, đường trôn ốc, theo óc tưởng tượng đă đánh đồng lịch sử với toán học, tóm gọn sự biến chuyển lịch sử qua một phương tŕnh toán học, rồi từ đó suy đoán ảo tưởng, nhưng nhiều khi lịch sử chỉ là một sự lập lại, nếu chúng ta đem so sánh sự sụp đổ của đế quốc cộng sản Liên sô dưới thời Gorbatchev và sự sụp đổ của triều đ́nh quân chủ Pháp Louïs XVI.

 

Nhưng phải chăng trong lịch sử cận đại không có một chế độ độc tài nào tự sửa đổi, cải tổ để đi đến chế độ dân chủ mà thành công ? Câu trả lời là có. Chúng ta chỉ cần lấy thí dụ gần chúng ta và chúng ta cũng biết đôi chút. Đó là Nam Hàn và Đài loan. Nam Hàn và Đài loan trước thập niên 80 là dưới chế độ độc tài.

 

Có người nói, độc tài Nam Hàn và Đài loan là độc tài hữu, khác với độc tài Trung cộng và Việt Nam là độc tài tả, có sự khác biệt. Điều này không sai.

Tuy nhiên trong chính trị, dù là tả hay hữu, nhất là người lănh đạo, khi đă sáng suốt, có ư chí nhất quyết làm v́ nước v́ dân, th́ cũng có thể làm nhiều chuyện, trong đó có cả việc thay đổi một chế độ.  

 

I I )  Sự quan trọng của thể chế chính trị trong xă hội, văn hóa và văn minh nhân loại

 

Xă hội chúng ta có thể định nghĩa đơn giản là cách sống của một nhóm người có tổ chức, với những truyền thống, luật lệ, cơ chế, trải qua những thời đại. Nói một cách khác đi, đó là cách tổ chức xă hội con người ở vào một thời điểm nhất định nào đó, chính là chế độ, thể chế, tức cách tổ chức chính trị, kinh tế, luật pháp, văn hóa, xă hội.

 

Văn hóa, văn là đẹp, hóa là biến đổi,  đây là tất cả những hành động của con người làm thăng tiến đời sống của ḿnh trên hai phương diện vật chất và tinh thần. Một khi những hành động này có ảnh hưởng rộng lớn, trong một vùng, trải qua một thời gian dài, th́ nó trở thành văn minh.

Văn cũng là đẹp, minh là chiếu sáng, có ảnh hưởng lâu dài và rộng lớn.

Một số sử gia và nhân chủng học cho rằng con người trải qua 5 thời kỳ văn minh :

Văn minh trẩy hái, vào lúc con người mới xuất hiện trên trái đất, sống trong hang đá, hái trái cây, săn bắn ở chung quanh để sinh sống.

Văn minh du mục: rồi cây trái, súc vật ở chung quanh cũng trở nên khan hiếm, con người phải đi xa để t́m kiếm, nó bước sang thời kỳ văn minh du mục.

Nhưng ngay dù đi xa để kiếm ăn, thức ăn cũng trở nên khó khăn, con người phải trồng trọt, nuôi súc vật. Nó bước sang thời kỳ văn minh định cư nông nghiệp.

Với nền văn minh này, con người đă có thể thỏa măn những nhu cầu căn bản của ḿnh, nghĩa là khi đói th́ có ăn, khi lạnh th́ có áo để bận, con người bắt đầu nghĩ đến những nhu cầu xa xỉ, muốn ăn ngon, mặc đẹp, con người trao đổi với nhau về những s ản phẩm ḿnh làm ra, có nghĩa là tôi trồng lúa ḿ để ăn, nhưng tôi thích ăn lúa mạch, th́ tôi trao đổi với người trồng lúa mạch; tôi có thể dệt vải để mặc, nhưng thôi thích mặc lụa, th́ tôi trao đổi với người dệt lụa. Con đường Gia vị, con đường Tơ lụa nối liền đông tây trong lịch sử nhân loại, có nghĩa là thế.Từ đó con người bước sang nền văn minh trao đổi thương mại.

Ngày xưa, con người phải đi xa để trao đổi, nhưng từ ngày có phát minh ra điện, điện thoại, điện toán, con người không cần phải đi xa để trao đổi, con người bước sang nền văn minh tri thức điện toán, như ngày hôm nay.

 

Vào thời văn minh trẩy hái, du mục, canh nông, lao động chủ yếu là dùng sức mạnh bắp thịt chân tay. Nhưng bước sang văn minh thương mại, nhất là văn minh tri thức điện toán ngày hôm nay, lao động chủ yếu là tư tưởng, phát minh sáng kiến, từ đầu óc con người.

 

Mỗi một thời văn minh có một h́nh thức tổ chức nhân xă tương xứng . Thời văn minh trẩy hái, du mục, đó là chế độ gia tộc, bộ lạc. Bước sang thời kỳ văn minh định cư nông nghiệp, là chế độ quân chủ.

Nhưng sang thời kỳ văn minh thương mại, tri thức, điện toán, đó là chế độ dân chủ, v́ để trao đổi là phải có người khác, phải có đối thoại.

Socrate nói : «  Nơi nào có đối thoại, nơi đó mới có tiến bộ và dân chủ «  là như vậy. 

Nhất là vào thời kỳ văn minh tri thức điện toán ngày hôm nay, để phát minh, sáng kiến, con người bắt buộc phải sống dưới chế độ dân chủ, v́ phải có tự do tư tưởng, trao đổi tư tưởng, công tŕnh t́m kiếm, th́ lúc đó con người mới có thể có những ư kiến mới.

Voltaire đă từng nói : «  Tự do tư tưởng và ngôn luận là hai cột trụ chính của chế độ dân chủ. «

 

Mỗi một mô h́nh tổ chức nhân xă là một bước tiến của nhân loại. Nhưng nếu kéo dài quá th́ lại trở thành vật cản trở, như chế độ quân chủ là một bước tiến so với chế độ gia tộc và bộ lạc, nhưng kéo dài lâu quá th́ trở thành lạc hậu, ngăn cản bước tiến của con người.

Trong khi đó chế độ như chế độ quân chủ kéo dài cả bao ngàn năm, không những lỗi thời, mà c̣n trở nên giết người, v́ một thiểu số nắm quyền, muốn kéo dài đặc ân, đặc lợi, bổng lộc của ḿnh, không ngần ngại dùng bất cứ thủ đoạn nào, từ thông tin tuyên truyền lừa bịp, đến dùng cái c̣ng với công an và dùng cái súng với lính để đàn áp dân.

Người ta nói : «  Chế độ độc tài là chế độ của cái loa, cái c̣ng và cái súng «  là vậy.

 

Nh́n vào lịch sử cận đại, 2 chế độ cái loa cái c̣ng và cái súng là chế độ độc tài phát xít Hitler và chế độ cộng sản.

Cả hai đều dựa trên quan niệm triết lư, tư tưởng bất b́nh thường :

Hitler cho rằng chủng tộc Aryen là chủng tộc tinh khiết, không pha trộn với những chủng tộc khác, nên thông minh. Đây là một cái ǵ vô cùng phản khoa học. Dân tộc Đức tiêu biểu cho chủng tộc này, nên thông minh, đáng để cầm đầu thế giới. Chính v́ vậy nên Hitler đă không ngần ngại phát động chiến tranh khắp nơi.

 

Marx th́ cho rằng lịch sử con người là bạo động, là đấu tranh giai cấp, không ngần ngại mở đầu Bản Tuyên Ngôn thư Cộng sản: « Lịch sử nhân loại từ xưa tới nay là lịch sử của đấu tranh giai cấp. »

Đây cũng là một cái nh́n quá phiến diện và tổng quát hóa, chẳng có ǵ là khoa học, như những người cộng sản, bắt đầu bởi Marx thường rêu rao: «  Khoa học lịch sử, khoa học biện chứng. »

Không cần chứng minh dài ḍng, chúng ta chỉ nh́n chính chúng ta và những người chung quanh, xét cuộc đời th́ chúng ta rơ: B́nh thường con người muốn sống ḥa b́nh. Con người chỉ dùng bạo động trong những trường hợp bị bắt buộc, trường hợp bất b́nh thường. Điều này đúng với cả lịch sử của những quốc gia.
Marx và những người cộng sản đă lấy cái ǵ bất b́nh thường làm cái b́nh thường, nên từ lư thuyết cho đến chế độ đă trở nên bất b́nh thường, bệnh hoạn.

Đấy lại chưa nói đến ngay từ lúc đầu, chế độ cộng sản, bề ngoài th́ mang nhăn hiệu «  Thế giới đại đồng, Anh em cộng sản « , nhưng bề trong là chủ nghĩa quốc gia cực đoan, bành trướng. Bề ngoài mang nhăn hiệu «  Liên bang các cộng ḥa xă hội sô viết « ( URSS), nhưng bên trong, Lénine, qua tay em của ḿnh là Staline, v́ lúc đó Staline đă đặc trách về vấn đề các dân tộc, t́m cách ép buộc, đàn áp, giết hại những dân tộc chung quanh, bắt họ đi theo Liên sô. Bằng chứng rơ ràng là khi đế quốc Liên sô sụp đổ năm 1989, th́ những dân tộc này nổi lên đ̣i độc lập.

Chính v́ mang đầu óc quốc gia cực đoan, bành trướng, nên đă có những vụ tranh chấp Nga – Hoa ở biên giới vào những năm 60, tranh chấp giữa Việt Cộng và Trung cộng, rồi đi đến chiến tranh năm 1979, tranh chấp Việt Miên rồi cũng đi đến chiến tranh trước đó một năm, 1978.

Sau khi Liên sô sụp đổ, th́ Việt cộng vội chạy đi thần phục Trung cộng, mở đầu bằng Hội nghị Thành đô tháng 3/1990, và không ngừng kư những hiệp ước dâng đất nhượng biển cho Trung cộng. Nhưng v́ Trung cộng từ xưa đă mang mộng bành trướng đế quốc, nay lại được cấy vào vi trùng bất b́nh thường Mác Lê, nên mộng bành trướng càng ngày càng mạnh. Mặc dầu cả 2 bên, lúc nào cũng rêu rao «  Bốn tốt và 16 chữ vàng «; nhưng đùng một cái, Trung cộng cho đặt giàn khoan, xâm phạm chủ quyền lănh hải Việt Nam.

 

Nhiều người v́ tin tưởng ở những câu nói đầu môi, chót lưỡi của cộng sản, « T́nh Huynh đệ tốt, Môi hở răng lạnh, T́nh đồng chí cộng sản « , đă ngỡ ngàng về sự việc Trung cộng đặt giàn khoan dầu ở quần đảo Hoàng sa, thuộc về chủ quyền Việt Nam.

Thực ra nếu chúng ta xét lịch sử xa của cộng sản, th́ chúng ta không có ǵ ngạc nhiên. Trung cộng và Việt cộng đă nhiều lần đánh nhau.

Bởi lẽ đó, chừng nào hai dân tộc Việt Nam và Trung hoa vẫn c̣n phải mang cái ách chế độ cộng sản, lấy lư thuyết Marx làm nền tảng cho chế độ, kêu gọi đấu tranh giai cấp, một lời kêu gọi chiến tranh triền miên, không những chiến tranh trong chính nội bộ, mà c̣n chiến tranh với nước ngoài, chừng đó hai dân tộc không thể nào sống ḥa b́nh, ḥa b́nh với chính ḿnh, ḥa b́nh với các nước chung quanh và với cộng đồng thế giới.  

 

Người dân sống dưới chế độ độc tài phát xít hay độc tài cộng sản không những chỉ  như một hạt mầm gieo trên một mảnh đất khô cằn, mà c̣n bị giới lănh đạo dùng như những bia đỡ đạn cho tham vọng bành trướng và đế quốc của ḿnh.

 

V́ vậy, ngày hôm nay, những chế độ độc đoán độc tài, không phát triển hay phát triển chậm hơn những chế độ dân chủ và đi ngược lại trào lưu tiến hóa của con người là như vậy.

 

Quả thưc nhân loại đă trải qua 5 nền văn minh, từ trẩy hái qua du mục, quân chủ tới dân chủ ngày hôm nay, mỗi một nền văn minh tương xứng với một mô h́nh tổ chức nhân xă khác nhau, hay nói một cách rơ hơn, hiện đại hơn là cách tổ chức chính trị, kinh tế, xă hội, luật pháp, hoặc chế độ hay thể chế chính trị khác nhau, từ thể chế gia tộc, bộ lạc, tới quân chủ và dân chủ.

Nước Tàu và Việt Nam hiện nay nói riêng và các nước phương đông nói chung trong đó có cả các nước Trung Đông, những nước này đă có một nền văn minh rất sớm, hơn cả tây phương. Nhưng tiếc rằng chế độ quân chủ kéo dài quá lâu. Ngày hôm nay chế độ cộng sản ở Tàu và Việt Nam cũng chỉ là một chế độ quân chủ phong kiến trá h́nh. Chế độ quân chủ này trước khi tàn th́ bùng lên ở phía phải tức chế độ phát xít, bùng lên ở phía tả, tức chế độ cộng sản, để rồi sẽ tắt luôn như một nhóm lửa trước khi tàn.

 

Tây phương, mặc dầu văn minh đến chậm hơn đông phương, nhưng đă biết từ bỏ sớm chế độ quân chủ để bước sang chế độ dân chủ và kinh tế thị trường, và họ đă phát triển rất mạnh, vượt mặt đông phương.

Đối với những chế độ quân chủ, từ lạc hậu như ở các nước Trung Đông, cấm đoán ngay cả những người phụ nữ làm đủ mọi thứ nghề, ra đường phải bịt mặt, tới chế độ cộng sản tước hết mọi quyền căn bản nhất của con người; người xưa có câu «  Trễ c̣n hơn không «, hăy từ bỏ thể chế chính trị quân chủ phong kiến để bước sang chế độ dân chủ, tôn trọng những quyền căn bản của con người trong đó có nam nữ b́nh quyền, có quyền tự do tư tưởng và ngôn luận, th́ mới hy vọng  theo kịp những nước văn minh. Gương Nam Hàn và Đài loan cho ta thấy rơ. Hai nước này đă từ bỏ chế độ độc tài vào thập niên 80, để bước sang chế độ dân chủ, thế mà ngày hôm nay 2 nước này có thể sánh cùng với những nước văn minh khác trên thế giới.

Đất nước và dân tộc đang đứng trước hiểm họa diệt vong, trong th́ đảng cộng sản mặc t́nh cấu kết với ngoại bang bán đất dâng biển, hèn với giặc, ác với dân, giết hết tinh anh, triệt mọi cơ hội phát triển của người dân, ngoài th́ Tàu cộng lộng hành, ngang nhiên kéo dàn khoan đến vùng biển Việt Nam. Con đường duy nhất để chống ngoại xâm là bằng mọi cách phải thay đổi thể chế chính trị, từ độc tài cộng sản qua Dân chủ Tự do v́ có như thế giới lănh đạo mới quy tụ được sức mạnh toàn dân, vận động được các quốc gia và cộng đồng yêu chuộng Tự do và Ḥa b́nh trên thế giới cô lập và bẻ găy mọi mưu mô bá quyền của Tàu cộng. (1)

 

                                     Paris ngày 05/06/2014

 

                                Chu chi Nam và Vũ văn Lâm

 

(1)              Xin đọc thêm bài Trung cộng tiêu biểu cho văn minh đông phương và những bài về thể chế chính trị và dân chủ trên http://Orange.fr/chuchinam/