NÊN LẠC QUAN HAY BI QUAN CHO CUỘC ĐẤU TRANH

 

                             NHÂN QUYỀN HIỆN NAY

 

 

   Về cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền hay nh́n dưới một góc cạnh khác là về cuộc đấu tranh độc lập cứu quốc và dân chủ kiến quốc hiện nay của dân Việt, có người  nh́n rất bi quan ; có người, ngược lại,  rất lạc quan. Vậy đâu là những nguyên do đưa đến bi quan, đâu là những nguyên do ngược lại đưa đến lạc quan ; đâu là lập trường của chúng ta ?

   Tự do chính là những quyền căn bản của con người, đi từ quyền tự do đi lại, tự do sinh sống, tự do mưu cầu hạnh phúc, tự do ngôn luận, tự do chính trị v..v.. và đă được ghi trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.Tự do chính là nhân quyền, có tính cách bẩm sinh và bất khả nhượng. Ngay cả con chim kia chúng ta nhốt trong lồng, mặc dù chúng ta cho nó ăn cao lương mỹ vị, nó c̣n muốn sổ lồng ra ngoài để t́m tự do ; huống chi là con người, dù là da vàng, da đỏ hay da trắng, có ai sinh ra lại muốn bị mất tự do không ?. Tất cả những luận điệu bảo rằng tự do, nhân quyền là sản phẩm của Tây phương chỉ là những ngụy biện của những bạo quyền và của những kẻ trí thức hèn mạt, bẻ cong ng̣i bút, quỳ gối, khom lưng, quỵ lụy trước bạo quyền, mong kiếm chút bổng  lộc, cơm thừa căn cặn. Dân chủ chính là một chế độ chính trị mà trong đó nhân quyền được tôn trọng, bảo đảm, khác với chế độ độc tài.

   Tự do, dân chủ, nhân quyền không phải tự nhiên mà có, phải đấu tranh mới có. Nhiều khi rất là cam go. V́ vậy có những quan niệm bi quan ; nhưng cũng có những quan niệm lạc quan. Đó là thường t́nh.

 

   I )  Những quan niệm bi quan :

 

Cuộc đấu tranh này kéo dài đă quá lâu : Có người cho rằng cuộc đấu tranh này quá lâu, đă 33 năm rồi mà không có kết quả ǵ cả. Điều đó có một phần đúng; nhưng 33 năm là dài so với một đời người; không là bao trước ḍng dài lịch sử của một dân tộc. Hơn thế nữa cuộc đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền ngày hôm nay đồng thời c̣n là một cuộc đấu tranh cho sự thật, cho lẽ phải, chống lại giả dối, bịp bợm, cho công bằng, chống lại bất công, cho điều thiện, chống lại điều ác, cho văn hóa và văn minh, chống lại cái ǵ man rợ, rừng rú, chà đạp nhân quyền. Cuộc đấu tranh đó phải là một đấu tranh thường nhật; và dù nó kéo dài, chúng ta cũng phải cam chịu; v́ không lẽ chúng ta là những người lương thiện, yêu người, thương quê hương, dân tộc, lại khoanh tay, bó giáo, lui hàng, ngồi nh́n những ma lực, những kẻ đầu trộm, đuôi cướp, những con người mặt người, nhưng ḷng dạ dă thú hoành hành hay sao ?

 Lương tâm, lương tri con người ở đâu ? Ư chí quật cường của một dân tộc đă từng đánh Tống, đuổi Nguyên, kháng Minh c̣n hay mất ?

 

Bảo rằng cuộc chiến này chưa có kết quả là sai. Nó chưa mang lại kết quả cuối cùng; nhưng nó đă mang lại nhiều kết quả. Ngày hôm nay ma lực cộng sản không dám tự tiện hoành hành, muốn giết ai th́ giết, muốn bỏ tù ai th́ bỏ tù, như thời thập niên 70, 80, mà đă phải coi chừng dư luận; ngày hôm nay người dân  một phần nào đă dám đứng lên chống đối trước những vụ cướp nhà, đuổi đất; những công nhân dám đ́nh công v́ bị tư bản đỏ là những cán bộ, đảng đoàn, thông đồng với tư bản trắng ngoại quốc bóc lột, trả đồng lương rẻ mạt; đó chính là những kết quả của công việc đấu tranh của mỗi người trong chúng ta, từ quốc nội tới hải ngoại.

 

 Có ngừơi nói : “Người Việt chống cộng quá chia rẽ, quá cá nhân chủ nghĩa, lâm vào cảnh “ Lục xúc tranh công ”.

Đây là một nhận xét không phải là không có cơ sở. Người Việt chúng ta thường có cái nh́n cục bộ, nặng về t́nh cảm hơn về lư trí, từ chỗ đó dễ đưa đến những nhận xét vội vă, hồ đồ, sai lầm, nhiều khi lâm vào cảnh “ nhiệt t́nh cộng với chủ quan, ngu dốt thành ra phá hoại. “ Người Việt chúng ta nhiều khi đánh giá tài cán của ḿnh th́ cao, đánh giá sự khó khăn của công việc th́ thấp, lâm vào cảnh “Đầu voi đuôi chuột “, thấy rằng người ta làm được, tại sao ḿnh lại không. Chỉ cần nh́n vào cộng đồng người Việt hải ngoại với biết bao tổ chức, hội đoàn chỉ có tên khai sinh; nhưng chết yểu, v́ không có khả năng duy tŕ và phát triển. Chỉ cần nh́n trên mạng lưới internet hay pal talk với cả gần 400 pḥng trao đổi (rooms), chẳng hạn như ngày 28/05/2008, chúng ta lên pal talk, chúng ta thấy ǵ: Việt Nam có 376 rooms ( pḥng trao đổi ); trong khi đó, Thái lan có 2; Đài loan có 1; Phi luật Tân có 26 v.v.. . Điều này nếu nh́n lạc quan th́ chứng tỏ người Việt có một sức sống, một bản năng sinh tồn ( instinct de survie) rất mạnh. Nhưng nếu chúng ta nh́n bi quan th́ đó là lâm vào cảnh “ Lục xúc tranh công “. Mở pḥng trao đổi ( room ) th́ dễ, nhưng làm sao để kéo dài và có phẩm lượng mới quan trọng. Tạo ra một tổ chức, cho nó một cái khai sanh th́ dễ, nhưng làm sao nuôi nấng nó lớn lên, hướng dẫn nó nên người, như nuôi một đứa con, mới là khó.

   Từ đó tôi lại nhớ đến một câu nói của một nhà chính khách người ngoại quốc: “ Người Việt có căn tính nô lệ. “  Câu này nếu nh́n ḍng dài lịch sử Việt, th́ là sai, v́ dân Việt có thể là dân tộc có một không hai trên thế giới, có ư chí độc lập, quật cường, đă bao lần đánh Tống, đuổi Nguyên, kháng Minh, diệt Thanh, giữ vững được nền tự chủ. Nhưng nếu chúng ta suy ngẫm câu trên và nh́n vào lịch sử Việt Nam cận đại, th́ chúng ta có cảm tưởng nó không phải là không có lư. Thật vậy, nếu chúng ta suy xét lịch sử Việt Nam từ thời Pháp thuộc cho tới nay, th́ chúng ta thấy dân Việt, nhất là giới lănh đạo, sĩ phu, trí thức có quá nhiều đầu óc căn tính nô lệ.

 Suốt trong thời kỳ Pháp thuộc, phần lớn giới sỹ phu, trí thức Việt chỉ giỏi thi hành, ai ra lệnh cho th́ thi hành rất giỏi; nhưng không dám tự lấy quyết định, làm chủ chính ḿnh.

   Tới thời cộng sản rồi Việt Nam Cộng ḥa, tiếp theo tới ngày hôm nay là cộng sản, chúng ta thấy ǵ với giới lănh đạo, sĩ phu, trí thức ?

 

   Thời cộng sản, với giới lănh đạo, sĩ phu phi, trí thức, bắt đầu bằng Hồ chí Minh, qua Trường Chinh, Lê Duẫn tới Tố Hữu, Đỗ Mười, Nông đức Mạnh, th́ đầu óc căn tính nô lệ quá rơ.

   Hồ chí Minh th́ thản nhiên tuyên bố : “ Tôi không có tư tưởng ǵ cả, tư tưởng của tôi đă có Marx, Lénine, Staline và Mao nghĩ hộ. “ Một người không có tư tưởng mà hành động th́ chỉ là một người máy, một kẻ nô lệ. (1) Ở điểm này, có người bênh vực Hồ chí Minh, cho rằng ông là người khiêm nhượng, nên nói như vậy. Sai, v́ Hồ chí Minh không phải là người khiêm nhượng, đă tự xưng với Trần Hưng Đạo là tôi và gọi là bác, dám tự nghĩ “ Dẫn năm châu tới đại đồng”, trong bài thơ khi họ Hồ viếng thăm đền Đức Thánh Trần như sau :

 

            “ Cũng cờ, cũng kiếm, cũng anh hùng,

               Tôi Bác chung nhau nợ kiếm cung.

               Bác phá quân Nguyên thanh kiếm bạc,

               Tôi trừ giặc Pháp ngọn cờ hồng.

               Bác đưa một sứ qua nô lệ,

               Tôi dẫn năm châu tới đại đồng.

               Bác có anh linh cười một tiếng,

               Mừng tôi cách mạng đă thành công.”

 

   Họ Hồ gọi Đức Trần hưng Đạo, người mà dân Việt tôn lên thành Thánh, bằng bác, xưng tôi, trong khi đó th́ gọi Marx, Lénine là cụ, như hắn viết trong di chúc của hắn. Đây là một con người có đầu óc căn tính nô lệ và vọng ngoại vô cùng to lớn.

   Với trường Chinh và Lê Duẫn th́ cũng không kém.

   Trường Chinh tên thật là Đặng xuân Khu, lấy biệt hiệu là Trường Chinh v́ tôn thờ Mao trạch Đông trong cuộc Vạn Lư trường Chinh của ông. Lê Duẫn th́ thản nhiên tuyên bố: “ Chúng tôi đánh đây là đánh cho Liên Sô và Trung cộng.” 

   Giới sĩ phu trí thức cộng sản, tiêu biểu bởi Tố Hữu th́ vọng ngoại đến ngu muội, bệnh hoạn:

              “ Ôi ông Staline ơi ! Ông Staline ơi !

                 Ông chết, đất trời biết không ?

                 Thương cha, thương mẹ, thương chồng ,

                  Thương ḿnh riêng một, thương ông , thương mười "

Hay :

                “ Hôn cho anh nền tảng đá công trường !

                   Nơi vĩ đại Lénine thường dạo bước .”

 

Giới lănh đạo cộng sản đương thời th́ cũng không kém: h́nh ảnh một Phan văn Khải, một Nguyễn tấn Dũng, một Nguyễn minh Triết, khúm núm trước một Bill Gates, đưa tay xoa xoa đôi giày bức tượng của một nhà tư bản ở Wall Street, rồi quảng cáo xứ ḿnh bằng câu nói: “ Chúng tôi mời các ông đến xứ chúng tôi. Gái nước tôi rất đẹp “; trong khi đó th́ ở trong nước coi thường dân, đàn áp dân. Đây là tinh thần : “ Khôn nhà, dại chợ. “

 

   Thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng ḥa: với thời Đệ Nhị v́ sự có mặt của gần 500 ngàn quân đội Hoa kỳ, giới lănh đạo Việt Nam không c̣n chủ quyền. Việt Nam chỉ có chủ quyền với thời Đệ Nhất với Tổng Thống Ngô đ́nh Diệm. Đây là một con người yêu nước, không vọng ngoại, có chí khí, dù chết, nhưng không chịu để mất chủ quyền quốc gia.

   Tinh thần vọng ngoại, tôn thời ngoại quốc, coi thường chính đồng hương của ḿnh c̣n rơi rớt ngay trong cộng đồng hải ngoại, nếu chúng ta quan sát ngay chung quanh chúng ta.  Trước ngoại quốc th́ khúm núm, sợ hăi, trong khi đó th́ coi thường, không tin tưởng người đồng hương.

   Ngày nào mà tinh thần này c̣n, ở trong quốc nội cũng như ở hải ngoại, th́ công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền Việt Nam c̣n nhiều khó khăn .

 

 Người khác lại nói : “Dân Việt quá thờ ơ, người Việt ở hải ngoại th́ phần lớn về Việt Nam du hí hay thăm gia đ́nh, không nghĩ đến đấu tranh, vô t́nh hay cố ư tiếp tay cho bạo quyền; người Việt ở quốc nội th́ chỉ lo làm ăn, phần lớn giới trẻ th́ chỉ lo du hí”.

   Câu nhận xét này hơi bi quan, nhưng không phải là hoàn toàn vô lư.

Chúng ta cứ nh́n hàng năm cả trăm ngàn người Việt trở về Việt Nam, hàng năm họ gửi về cả bảy tám tỷ đô la, vô t́nh hay cố ư tiếp tay cho cộng sản. Tôi không chống việc nguời Việt trở về nước thăm quê hương, việc gửi tiền về; về để thăm người thân, cha mẹ, gửi tiền về trong những trường hợp cần thiết; nhưng về để du hư, để mua vui trên sự đau khổ của dân tộc, th́ tôi chống. Những người này, khi vượt biên, nhiều khi đă phải sống cảnh xác cha bị vùi nông bên lề đường, xác mẹ hay xác vợ hoặc xác con bị ch́m xâu trong ḷng biển hay bị hải tặc hăm hiếp. Những người này c̣n lương tâm, lương tri hay không. Sao vội quên như thế ?

   Tôi hoan nghênh những người Việt về quê hương đă âm thầm kín đáo biến ḿnh thành những người đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền, đấu tranh cho quê hương, dân tộc.

  

Có người lại nói : “Bộ máy tuyên truyền, khủng bố đàn áp của cộng sản quá hữu hiệu; giới sĩ phu trí thức, mặc dầu có những Ḥa thượng Thích Quảng Độ, Linh mục Nguyễn văn Lư, luật sư Lê thị Công Nhân, Nguyễn văn Đài, cùng nhiều người khác; nhưng vẫn c̣n ít; một vài con én không đủ làm nên mùa xuân; trong khi đó th́ đại đa số như 700 tờ báo, 200 đài phát thanh và truyền h́nh, qui tụ rất nhiều trí thức, quá hèn hạ, bẻ cong ng̣i bút, quỵ gối khom lưng, ra rả bênh vực bạo quyền, không dám cất lên một lời nói sự thật, bộ máy này quá mạnh !”

   Quả thật như vậy, một nhà tư tưởng đă nói: “Để làm cách mạng th́ cần đến giai tầng b́nh dân; nhưng để cách mạng thành công, th́ cần đến giai tầng sĩ phu, trí thức .”

   Dân Việt, giai tầng b́nh dân đă muốn đứng lên làm cách mạng tự do, dân chủ, nhân quyền từ lâu. Điển h́nh và tiêu biểu là dân Nghệ An, Hà Tĩnh, Quỳnh Lưu, cái nôi của cộng sản Việt Nam, sô viết Việt Nam đầu tiên, quê của Hồ chí Minh, thế mà đă nổi lên từ năm 1956, rồi sau này dân Thái B́nh, dân cao nguyên miền Trung, rồi dân tất cả các tỉnh Việt Nam đă qui tụ  biểu t́nh về việc họ bị cướp đất đuổi nhà. Tuy nhiên cuộc cách mạng nhân quyền này chưa thành công v́ giai tầng sĩ phu trí thức Việt không làm tṛn trách nhiệm của ḿnh là can đảm hướng dẫn dân, tổ chức dân, đưa cách mạng đến thành công.

 

I I )  Những quan niệm để lạc quan

 

Cuộc đấu tranh đang đi đúng chiều hướng của văn minh nhân loại, đi đúng chiều hướng cứu dân, cứu nước của dân tộc Việt

Theo một số nhà kinh tế, sử học và nhân chủng học, th́ nhân loại đă trải qua 5 nền văn minh: 1) Văn minh trẩy hái, 2)  Văn minh du mục, 3) Văn minh định cư nông nghiệp, 4) Văn minh thương mại, 5) Văn minh tri thức, điện toán, chính là nền văn minh hiện tại.

Người ta có thể nói từ nền văn minh trẩy hái đến nền văn minh thương mại, yếu tố lao động giữ vai tṛ chính trong 3 yếu tố : lao động, đất đai và vốn của công việc sản xuất kinh tế, th́ lao động chủ yếu là sức mạnh bắp thịt, chân tay; nhưng khi con người bước sang văn minh tri thức,điện đoán, lao động chủ yếu là tri thức tức đầu óc con người. Sức mạnh, sự giầu có của một quốc gia không nhất thiết là quốc gia đó có nhiều tài nguyên, đất rộng, người đông, mà chính là quốc gia đó có nhiều phát minh, sáng kiến khoa học, kỹ thuật hay không. V́ vậy mô h́nh tổ chức nhân xă tất yếu của văn minh tri thức hiện đại chính là mô h́nh tự do, dân chủ, kinh tế thị trường; v́ chỉ dưới chế độ dân chủ, con người mới có thể trao đổi những ư tưởng, tư tưởng, công tŕnh nghiên cứu, mới có thể phát minh sáng kiến. Bởi lẽ đó công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ của chúng ta đang đi đúng chiều hướng của văn minh nhân loại. Ngược lại, những chế độ độc tài đang đi ngược chiều hướng văn minh nhân loại, sớm muộn sẽ bị đào thải.

  

Cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền đang đi hợp ḷng dân, v́ họ không nói ra; nhưng trong ḷng họ ủng hộ; v́ nơi nào có tham nhũng, hối lộ, bất công, đàn áp, bóc lột; nơi đó có người dân đấu tranh chống lại, công khai hay âm thầm :

 

     “ Nơi nào có đàn áp, bóc lột, bất công, tham nhũng, nơi đó có người dân đứng lên đấu tranh.”, câu này không của ai hơn chính là của Lénine. Xă hội cộng sản nói chung và xă hội cộng sản Việt Nam nói riêng là những xă hội đàn áp, bóc lột, bất công.

   Brejnev, cựu Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Liên Sô, trước khi chết, phải than lên : “ Xă hội cộng sản ǵ mà 1/3 xe chạy ngoài đường là ăn cắp săng của công; 1/3 bằng cấp là bằng cấp giả; công chức đến sở làm việc là chỉ để có mặt, sau đó là đi coi hát hay làm việc riêng tư.” Nh́n vào sự thoái trào của xă hội cộng sản Tàu và Việt Nam hiện nay, mặc dầu hoàn cảnh lịch sử, con người khác nhau; nhưng bản chất thoái trào giống nhau. Bằng cấp giả lan tràn ở Trung Cộng và Việt Nam, tham nhũng, hối lộ đă và đang trở thành quốc nạn v.v…

 

Bộ máy tuyên truyền, đàn áp của cộng sản dù có hữu hiệu; nhưng không thể nào che dấu nổi sự thật; hăy suy ngẫm kinh nghiệm Liên Sô và Đông Âu; suy ngẫm câu người xưa: “ Sự thật như một cái kim bỏ trong túi; dù nó nhỏ nhưng lâu ngày cũng sẽ ḷi ra, và đâm ngay chính người muốn dấu diếm nó “.

Những nhà đấu tranh dân chủ, nhân quyền Liên Sô, bắt đầu bởi nhà văn đoạt giải thưởng Nobel Văn chương Soljennytsine, nhà bác học Sakharov đă lấy câu châm ngôn Nga “ Một lời nói sự thật nặng hơn quả địa cầu “ làm kim chỉ nam. Thật vậy, sự thật lâu ngày sẽ được phơi ra; v́ bất cứ một chế độ độc tài nào cũng dựa trên 2 cột trụ chính: 1) Bộ máy thông tin tuyên truyền bôi bác sự thật; 2) Bộ máy công an dọa nạt, khủng bố dân. Làm thế nào để 2 cột trụ này găy, th́ chế độ sụp đổ. Cũng chính v́ vậy mà khi vừa mới nhậm chức, Đức Giáo Hoàng Jean Paul I I, trở về thăm Ba Lan, Ngài đă khuyên dân Ba Lan : “ Hăy can đảm, đừng sợ xệt và hăy hy vọng ! “

 

Nếu chúng ta quan sát t́nh h́nh Việt Nam hiện nay, th́ có thể nói rằng sự sợ hăi đă đổi chiều, bạo quyền bắt đầu sợ sự thật, sợ chính ḿnh trước tiên; rồi sau đến sợ người dân (1).

 Và cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ nhân quyền, v́ dân, mặc dầu lượng ít, nhưng có phẩm, v́ là sức mạnh đang đi lên; trong khi đó bạo quyền là sức mạnh đang đi xuống, là anh khổng lồ, nhưng chân bằng đất xét, đang bị bệnh ung thư phá hủy từ trong năo bộ, trong xương tủy, phá ra. Một xă hội bị hối lộ, tham nhũng chẳng khác nào một con người bị bệnh ung thư; nếu chữa th́ phải cắt dần, cắt ṃn những phần cơ thể bị bệnh, rồi cũng chết; nếu không th́ nó ăn xâu vào lục phủ, ngũ tạng, rồi cũng không sống nổi.

 

   Dân Việt hăy kiên tŕ, can đảm đấu tranh, đoàn kết đấu tranh !

 

   Về vấn đề đoàn kết, có người cho rằng dân Việt ở hải ngoại không đoàn kết. Không hẳn như thế. Những người suy nghĩ như vậy là một phần suy nghĩ theo cách độc khuynh, độc tài, độc đảng, cách đoàn kết theo hàng dọc, một lănh tụ, một ư thức hệ, một đảng. Chúng ta đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền, chúng ta phải chấp nhận đa khuynh có nghĩa là nhiều ư thức hệ, nhiều nền triết học, tôn giáo cũng như nhiều đảng phái khác nhau; chúng ta phải chấp nhận đoàn kết theo hàng ngang: những tổ chức, những chính đảng vẫn giữ bản thể của ḿnh; nhưng khi nào có thể cùng nhau làm những việc chung, th́ cùng làm. Bằng chứng là nhiều tổ chức, nhiều hội đoàn trong Cộng đồng người Việt hải ngoại đă và đang làm chung nhiều việc : vụ chống Trần Trường, vụ phản đối đài truyền h́nh TV4, vụ phản đối Phan văn Khải, Nguyển tấn Dũng, Nguyễn minh Triết ra ngoại quốc v…v...

 

   Những chế độ độc tài, bề ngoài có vẻ vững mạnh, v́ từ một ư thức hệ, do một đảng cầm quyền như chế độ độc tài phát xít Hitler, Mussolini và độc tài cộng sản. Tuy nhiên nếu đến lúc đến thời,  nó sẽ sụp đổ một cách rất mau lẹ, nhường chỗ cho chế độ tự do, dân chủ, bề ngoài có vẻ yếu, nhất là vào những dịp bầu cử, v́ có nhiều đảng, nhiều tiếng nói khác nhau; nhưng chính v́ có nhiều tư tưởng nhiều tiếng nói, mới có tiến bộ. Hơn thế nữa, người dân trong những chế độ độc tài, mặc dầu họ không nói ra, nhưng niềm ước vọng thầm kín của họ vẫn là mong muốn sống có tự do, nghe những tin tức trung thực từ nước ngoài. Niềm mong ước này chính là những sợi dây vô h́nh nối kết họ lại với nhau, và khi có dịp sẽ giật sập bạo quyền.

 

   Dân Việt hăy kiên tŕ, can đảm đấu tranh. Tận nhân lực, tri Thiên mạng. Cố gắng đấu tranh, tất sẽ có ngày thấy số mạng sụp đổ của độc tài !

 

                                    Paris ngày 08/06/2008

 

                                           Chu chi Nam

 

_____________________________________________________

(1)              Xin xem thêm Khi Sự Sợ Hăi Đổi Chiều, Một vài ư kiến về bài “ Thời đại mới, tư tưởng mới “ của ông Hoàng Tùng, trên http://perso.orange.fr/chuchinam/