SỰ HỒ ĐỒ CỦA  KARL MARX  VỀ PHUONG DIỆN CHÂN LƯ

 

 ( Theo Karl Popper, tất cả chân lư chỉ là chân lư ước đoán ( la vérité conjecturale)).

 

  Karl Popper ( 1902-1994) : quê quán ở Vienne, nuóc Áo, đi theo đảng Cộng sản Đệ Tam từ năm 19 tuổi ; nhưng vào năm 1923, trong một cuộc biểi t́nh ở Vienne, thủ đô Áo, đă xẩy ra một cuộc xô sát giữa những ngụi đảng viên đảng Cộng sản theo Đệ Tam Quốc Tế của Lénine và những ngụi theo Đệ Nhị Quốc Tế của Kautski. Những ngụi theo Đệ Tam đă giết 2 ngụi của Đệ Nhị. Truóc cảnh đó, K. Popper đă tự đặt câu hỏi : Phải chăng ngụi ta có quyền nhân danh một lư tuỏng, dù là tốt đẹp, để có thể giết ngụi. Popper đă trả lời không. Không, ngụi ta không có quyền. Thế rồi ông rời bỏ Cộng sản Đệ Tam. V́ ông là ngụi gốc Do Thái, nên khi Hitler xâm chiếm Áo, ông đă bỏ chạy sang Tân Tây Lan dạy học. Sau đó ông trở về Anh dạy luận lư và phuong pháp khoa học ở trụng Kinh Tế Học Luân Đôn( the London Economic School). Ông là bạn thân của nhà bác học Albert Einstein. Ông này đă cho ông là nhà phê b́nh về phuong pháp khoa học nổi tiếng nhất của thế kỷ 20. Những quyển sách của ông trong đó có quyển Xă Hội Mở và những Kẻ thù của nó, đă là quyển sách gối đầu giụng của 2 nhà thủ tuóng Đức Helmut Smithd và Helmut Kohl. Thủ tuóng Pháp Edgare Faure, một nhà chính trị tài ba va khôn khéo, đă lập ra Hội Những Người Bạn của Karl Popper. Ngoài việc phê b́nh phuong pháp khoa học, ông c̣n phê b́nh triết học của Platon, Hégel và đặc biệt của Marx. Ông cho rằng cả ba ngụi đều hồ đồ. Đối với Marx ông c̣n như vậy, huống chi đối với những ngụi như Lénine,  Staline, Mao, không kể chi đến những ngụi như Hồ chí Minh theo Marx mà không hiểu Marx là ǵ, th́ ông c̣n thấy sự hồ đồ của họ đến chừng nào.

 

Ngụi ta c̣n có thể nói Karl Popper là ngụi bảo vệ những giá trị tự do, dân chủ mạnh nhất và nhiều nhất vào thế kỷ 20.

Vào lúc thiếu thời, ông thích chủ nghĩa mác xít và lư thuyết phân tâm học của Freud. Khi lớn lên ông hoàn từ bỏ và c̣n chống lại, v́ ông cho rằng 2 lư thuyết trên chỉ tự cho là khoa học ( pseudo-sciences), chứ thực tế không có ǵ là khoa học. Có thể nói phần lớn những công tŕnh nghiên cứu của ông là nhằm chứng minh tính chất phản khoa học của chủ thuyết mác xít và những lư thuyết độc đoán, độc tài.

Hai quyển sách Xă hội Cởi Mở Và những kẻ thù của nó ( La Société ouverte et ses ennemies), xuất bản năm 1945, và quyển Sự Nghèo Nàn của Chủ nghĩa Lịch sử ( La Pauvreté de l’Historicisme), xuất bản năm 1957, quyển đầu nhắm chỉ trích Platon ; quyển thứ nh́ nhắm chỉ trích Marx và Hégel, noiù rơ hơn là chỉ trích quan niệm «  Định Luật Lịch sử », có thể nói là đă bắt đầu bởi Platon, sau quan niệm này đuọc Hégel và Marx lấy lại khai triển mơi ngụi một cách khác nhau. Theo Popper, những ngụi như Platon, Hégel và Marx cho rằng có «  Định luật lịch sử » là sai lầm ; v́ lịch sử là khoa học nhân văn, những biến cố lịch sử không lập lại y hệt như những biến cố của những khoa học chính xác khác như vật lư, thiên văn, hóa học. Ngay đối với những định lư, chân lư của những khoa học chính xác khác, theo Popper, cũng chỉ là những chân lư uóc đoán ( vérité conjecturale). Chẳn hạn ngày thứ nhất, thứ hai, thú ba, tôi thấy mặt trời mọc ở phuong đông, th́ ngày thứ tư và trong tuong lai, tôi uóc đoán là mặt trời sẽ mọc ở phuong đông, chứ tôi lấy bằng chứng ǵ để tôi có thể quả quyết là nhất định mặt trời sẽ mọc ở phuong đông, những bằng chứng quá khứ tôi đưa ra mới chỉ là những bằng chứng tất yếu, nhưng chưa đủ. Đấy là đối với khoa học chính xác c̣n như vậy, huống chi đối với những khoa học nhân văn như tâm lư, lịch sử, kinh tế, xă hội. V́ vậy những ngụi quả quyết có định luật lịch sử, ngay cả Platon, Hégel và Marx , là hồ đồ.

Trong quyển Xă hội Cởi Mở và những Kẻ thuØ của nó, ông quan niệm rằng tự do và khoa học phát triển đồng thời và song hành với nhau, trong một xă hội mở, có nghĩa là xă hội dân chủ, nơi đó mọi ư tuỏng, mọi tư tuỏng đều có thể đuọc chấp nhận và đều đuọc trao đổi tự do, không bị cấm đoán. Chỉ trong xă hội dân chủ, khoa học mới phát triển, xă hội mới tiến bộ, trái nguọc hẳn với xă hội độc đoán, độc tài, xă hội khép kín.

Theo Popper, triết học của Platon có tính cách độc đoán với những luật lệ ngăn ngừa ( règle-gardien). Platon la triết gia củá một xă hội khép kín, một kẻ phản động, đă ngăn cản sự tiến hóa của xă hội bằng cách trao quyền hành tuyệt đối cho giai tầng chọn lọc triết gia.

Một điều lầm lẫn trong triết học cũng như trong chính trị học, từ truóc tới nay, theo Popper, đó là ngụi ta đặt câu hỏi vô giá trị, đưa đến độc đoán, độc tài, như sau : «  Làm thế nào để chúng ta chắc chắn », và « Làm thế nào để chúng ta chắc chắn có những nhà lănh đạo hoàn hảo  », thay v́ đặt những câu hỏi giá trị, tránh đưa đến độc đoán, độc tài, như : «  Làm thế nào để chúng ta có thể phát hiện ra những lỗi lầm của chúng ta và co thể sửa sai chúng một cách mau lẹ » và «  Làm thế nào để chúng ta có thể thuyên giảm tối đa những thiệt hại gây ra bởi những lỗi lầm của những nhà lănh đạo tồi tệ của chúng ta ? »

Trong quyển Xă hội Cởi mỏ và những Kẻ thù của nó, Popper tấn công Hégel và Marx. Popper rất coi thụng Hégel, mặc dù ông này đuọc nhiều ngụi coi là một trong những triết gia vĩ đại nhất của nhân loại. Popper bảo Hégel viết rất nhiều và nói rất nhiều, nhưng chẳng có nghĩa ǵ, v́ những diều Hégel viết có tham vọng đưa đến sự hiểu biết và chân lư tuyệt đối, tuy nhiên không có sự hiểu biết và chân lư tuyệt đối.

Về Marx, th́ Popper chịu ông này về cách làm việc và tra cứu vấn đề. Nhưng ông trách Marx đă quá tin tuỏng vào chủ nghĩa cố định ( le déterminisme), theo đó vạn vật tuân hành theo những định luật, cùng nguyên nhân tất đưa dến cùng một hậu quả. Theo Popper, những nghiên cứu gọi là khoa học của Marx chỉ tuân theo những lời tiên tri, tiên đoán truóc của Marx. V́ vậy nó có tính cách biện hộ, cắt nghĩa những lời tiên tri, tiên đoán, hơn là những t́m ṭi, khám phá khoa học có tính chất không định kiến vá khách quan.

Những kết luận truóc của Marx có tính chất hồ đồ, chẳng hạn như sự tiên tri, tiên đoán của Marx về sự sụp đổ tất yếu của chủ nghĩa tư bản ; một khi tiên tri, tiên đoán rồi, Marx mới cố gắng t́m cách biện minh cho lời nói tiên tri của ḿnh, v́ vậy nên đă đưa tới việc lẫn lộn nguyên nhân và hậu quả. Marx làm cho ngụi ta nghĩ là sự sụp đổ của chủ nghă tư bản là hậu quả của công tŕnh nghiên cứu của Marx, thật ra sự sụp do của chủ nghĩa tư bản chỉ là như’ng lời tien tri, là nguyên nhân của công tŕnh nghiên cứu của Marx.

Trong quyển Sự nghèo Nàn của Chủ Nghĩa Lịch Sử ( La Pauvreté de l’Historicisme), xuất bản năm 1957, Popper chỉ trích sự lầm lẫn của Marx, v́ Marx cho rằng có những định luật lịch sử và kinh tế, xă hội. Theo Popper không có định luật lịch sử, không có định luật kinh tế và xă hội, v́ lịch sử, kinh tế, xă hội là khoa học nhân văn, không chính xác, những hiện tuọng xă hội, lịch sử và kinh tế không phải là những hiện tuọng xẩy ra lại một cách y như truóc. V́ vậy không có định luật cho tiến tŕnh lịch sử, cho tiến tŕnh kinh tế. Marx nói : «  Luật tập trung gia tăng của tư bản » ( Loi de concentration croissante du capital » là sai, mà phải nói là «  Khuynh huóng tập trung gia tăng của tư bản » ( La tendance de concentration croissante du capital).

Theo Popper, hành động rút tỉa như’ng kết luận từ một khuynh huóng lịch sử và từ đó làm thành những định luật là một sự nghèo nàn của trí thức, v́ không chịu chấp nhận, quan sát tất cả những khía cạnh của sự việc, của lịch sử, hơn thế nữa c̣n nghèo nàn hơn, khi bắt nguồn từ một lời tiên tri, tiên đoán, một định kiến có truóc, rồi t́m cách biện minh sau, như trụng hợp Marx đă làm.

Theo Popper, một xă hội chấp nhận một ư thức hệ, hiểu theo nghĩa là hệ thống của những tư tuỏng, là một xă hội chết ; v́ xă hội loài ngụi biến chuyển từng giây, từng phút ; tất cả những ngành khoa học cũng biến chuyển từng giây, từng phút ; nay chấp nhận một ư thức hệ có nghĩa là làm khô cứng xă hội đó, làm ngưng sự tiến bộ của mọi ngành khoa học. Đó là xă hội khép kín, không thể tiến đuọc, rồi từ từ đi đến chỗ chết, trụng hợp của những xă hội bộ lạc xưa kia và những xă hội độc tài quân phiệt, phong kiến và độc tài cộng sản hiện nay. V́ vậy để tiến bộ, một xă hội cần phải mở để chấp nhận mọi tư tuỏng đế từ thập phuong. Nói một cách khác đi, để tiến bộ, cần phải có một xă hội dân chủ.

Theo Karl Popper, xă hội chấp nhận một ư thức hệ, hiẻu theo nghĩa hệ thống những tư tuỏng, là một xă hội khép kín, một xă hội đi đến chỗ chết, v́ xă hội loài ngụi tiến triển từng giây từng phút một, tất cả mọi khoa học cũng tiến triển từng giây từng phút một ; nay chấp nhận một ư thức hệ có nghĩa là làm khô cứng xă hội đó, làm ngưng tiến bộ của mọi ngành khoa học. Đó đă là trụng hợp những xă hội bộ lạc khép kín xưa kia và những xă hội độc tài khép kín ngày nay, từ độc tài quân phiệt đến độc tài cộng sản. V́ vậy để tiến bộ, một xă hội cần phải mở, để đón nhận mọi tiến bộ từ tư tuỏng đến khoa học kĩ thuật, đến từ thập phuong. Nói một cách khác đi, một xă hội muốn tiến bộ cần phải có dân chủ.

 

                         Ba le ngày 8/03/03

                     Trực Ngôn Chi chi Nam

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

   

 

1)      Cái nh́n phân tích và cái nh́n tổng hợp : Lời tuyên bố của Viện trưởng Viện Triết học Bắc Kinh về phương pháp biện trứng và phương pháp kinh dịch.

 

2)      Vấn đề  «  T́nh cờ và Hữu lư » theo Trịnh xuân Thuần

 

II)   Sự sai lầm của Marx trên phương diện lịch sử

 

1)      Phải chăng lịch sử là lịch sử của đấu tranh giai cấp ?

 

2)      Phải chăng lịch sử là lịch sử của bạo động ?